Tốc độ máu lắng là gì? Cách đo tốc độ máu lắng

Xét nghiệm về tốc độ lắng máu trở thành cụm từ khá quen thuộc, không phải ai cũng hiểu hết được về cụm từ này. Để bổ sung thêm thông tin cho người đọc, sau đây sẽ là bài viết Tốc độ máu lắng là gì? Cách đo tốc độ máu lắng

Tốc độ máu lắng là gì?

Tốc độ máu lắng hay còn gọi là độ lắng hồng cầu là một xét nghiệm được thực hiện để đo độ cao cột hồng cầu lắng xuống (mm) của một thể tích máu đã được chống đông trong 1 giờ, được đựng trong ống nghiệm đặc biệt có vạch chia mm. Xét nghiệm này không chuyên biệt cho một loại bệnh nào nhưng lại được áp dụng để  tầm soát rất nhiều bệnh.

Cách đo độ máu lắng hồng cầu?

Đối với người lớn và trẻ lớn:

Đầu tiên, xác định khu vực lấy máu, thường là vùng tĩnh mạch ở khuỷu tay hay ở mặt sau cẳng tay và sát trùng. Sau đó, dùng băng co dãn quấn quanh cánh tay, phía trên khu vực lấy máu. Mục đích của việc này giúp duy trì áp lực và hạn chế máu chảy qua tĩnh mạch. Phía dưới chỗ băng, máu sẽ bị ứ lại và tĩnh mạch căng phồng lên, dễ dàng đâm kim vào tĩnh mạch hơn. Máu rút ra sẽ được bảo quản trong một ống thủy tinh chân không hoặc xylanh, tất cả đều được sát trùng. Trong suốt quá trình lấy máu, băng co dãn sẽ được tháo ra để đảm bảo quá trình tuần hoàn máu. Khi thực hiện xong, chỗ lấy máu sẽ được cầm lại bằng một miếng bông hoặc băng gạc cá nhân.

Đối với trẻnhỏ và sơ sinh:

Chỗ lấy máu được sát trùng, sau đó dùng dao mổ có đầu nhọn (lancet) hoặc kim nhọn để lấy máu, đựng máu trong một ống nghiệm nhỏ hay ống nhựa nhỏ cũng đã được sát trùng. Dùng bông gòn hay băng gạc để cầm máu chỗ vừa lấy máu.

Khi thực hiện xét nghiệm này thì cần chuẩn bị những gì?

Không cần chuẩn bị điều gì và cũng không phải kiêng bất kì cái gì (bao gồm cả ăn và uống)

Đối với trẻ nhỏ thì cần phải chuẩn bị tâm lý, tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ để việc lấy máu thuận lợi hơn.

Mục đích làm xét nghiệm đo tốc độ máu lắng?

Thực hiện đo tốc độ lắng máu để theo dõi tình trạng viêm nhiễm, bệnh sốt cấp thấp, cơn nhồi máu cơ tim cấp hoặc bệnh lý ác tính nào đó. Tuy đây chỉ là xét nghiệm mang tính tầm soát, thường quy nhưng lại cần thiết trong việc hỗ trợ phát hiện và theo dõi bệnh lao, những rối loạn bệnh về thấp học (khớp, gân, cơ vân, dây chằng,… cùng các cấu trúc liên quan), quá trình hoại tử của các mô nằm trong cơ thể, hay phát hiện những bệnh lý khác mà có triệu chứng lâm sàng, để kịp thời có phương án điều trị.

Những tác dụng phụ có thể gặp phải khi lấy máu?

– Chảy máu nhẹ khi lấy kim ra

– Tạo khối bầm máu bên dưới da

– Choáng váng đầu nhẹ

– Nhiễm trùng

– Đâm kim nhiều lần vì khó tìm thấy tĩnh mạch

Kết quả độ máu lắng (Theo phương pháp Westergren):

Chỉ số bình thường:

Trẻ em:

Trẻ nhũ nhi: 0 – 2 mm/giờ.

Trẻ sơ sinh đến trẻ dậy thì: trung bình 3 – 13 mm/giờ.

Người lớn:

Nữ dưới 50 tuổi: nhỏ hơn 20mm/giờ.

Nữ trên 50 tuổi: nhỏ hơn 30mm/giờ.

Nam dưới 50 tuổi: nhỏ hơn 15mm/giờ.

Nam trên 50 tuổi: nhỏ hơn 20mm/giờ.

Chỉ số bất thường:

Những trường hợp khiến tốc độ lắng máu giảm:

– Giảm protein huyết tương.

– Bệnh đa hồng cầu.

– Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm

– Suy tim xung huyết.

– Máu tăng độ nhớt.

– Giảm fibrinogen trong máu.

Những trường hợp khiến tốc độ lắng máu tăng:

– Thiếu máu nặng.

– Bệnh giang mai.

– Bệnh thận.

– Mang thai.

– Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống.

– Bệnh của tuyến giáp.

– Bệnh lao.

– Bệnh thấp cấp.

– Viêm khớp dạng thấp.

Những trường hợp khiến tốc độ lắng máu tăng rõ rệt:

– Bệnh macroglobulin huyết (trong máu xuất hiện globulin miễn dịch bất thường).

– Bệnh tăng fibrinogen máu.

– Viêm mạch máu hoại tử.

– Bệnh đau cơ dạng thấp

– Đau tủy.

Bên cạnh đó, trong một số trường hợp có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm tốc độ lắng máu, có thể kể đến là:

– Viêm vùng chậu.

– Viêm ngoại tâm mạc.

– Xơ hoá sau phúc mạc.

– Viêm nội mạc tử cung.

– Bệnh viêm cân mạch có tăng bạch cầu ưa toan.

– Bệnh viêm quầng da do nhiễm Streptococcus pyogen

– Tổn thương da do nhiễm nấm blastomyces (những vết loét như hạt cơm ở mặt, cổ, bàn tay, cánh tay, bàn chân…).

– Viêm tuyến giáp bán cấp.

– Viêm mạch máu dị ứng.

– Viêm khớp dạng thấp trẻ em.

– Bệnh “cựu chiến binh”: một bệnh nhiễm trùng phổi, gây sốt, đau ngực, khó thở..

– Bệnh viêm xương tủy.

– U nhầy nhĩ trái.

– U nhầy nhĩ phải.

– Viêm gan tự miễn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *